Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản – Chương 2 Phần 1

poli

Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản

Tác giả: Robert P. Murphy, Political Incorrect Guide to Capitalism

Dịch giả: Ku Búa @ cafekubua.com

Chương 02 – Giá Cả Luôn Đúng (Theo Định Nghĩa) – Phần 1

Khi một người bán hàng dạo tăng giá cây dù đang bán lên gấp đôi vào một ngày trời mưa, anh ta đang phản ứng dựa trên lý trí để đáp ứng với tình huống đang thay đổi. Chúng ta sẽ thấy trong chương này, tất cả chúng ta đều có lợi từ việc người bán dù định giá mà anh ta nghĩ rằng đang phản ánh nhu cầu của thị trường.

price

Giá cả là tín hiệu

Điểm chính để nhớ về Chủ Nghĩa Tư Bản (thị trường tự do) là nó là một hệ thống của sự trao đổi tự nguyện: người mua và người bán đồng ý trao đổi với nhau vì họ nghĩ rằng cả hai bên đều có lợi.

Giá cả của thị trường là một sự cân bằng giữa việc bạn ham muốn một thứ gì đó bao nhiêu và việc người sản xuất miễn cưỡng để bán nó bấy nhiêu. Nếu một thứ gì đó được bán với giá cao, là bởi vì nó khan hiếm và ít. Nếu nó được bán với giá thấp, là bởi vì nó thông dụng và có quá nhiều. Nói ngắn gọn là giá cả thị trường không tùy tiện.

Để ví dụ, một chiếc xe hơi Mercedes-Benz rất mắc tiền. Nếu bạn là một người tiêu dùng, bạn sẽ muốn đảm bảo rằng bạn có đủ năng lực để lo cho mọi chi phí và nhu cầu khác, trước khi bạn bỏ một khoản tiền lớn cho chiếc xe đó.

Cũng tương tự, nếu bạn là một nhà sản xuất, giá cả thị trường ra tín hiệu cho bạn biết rằng hàng hóa gì cần được sản xuất. Ví dụ, nếu bạn là một người trồng táo và giá táo là 10 đồng một lạng, bạn sẽ hiểu rằng bạn cần phải trồng thật nhiều cây táo để đáp ứng nhu cầu cho những trái táo rẻ tiền đó hoặc đa dạng hóa mục đầu tư và trồng những cây khác mà người tiêu dùng đang trả giá cao hơn.

Khi chính phủ can thiệp với giá cả, nó làm hỏng đi khả năng quyết định kinh tế một cách thông minh của những người tự do. Điều tương tự cũng sẽ xảy ra nếu các chính trị gia can thiệp với đường dây điện thoại, email và những phương thức liên lạc khác.

oil

Sự phàn nàn về các “Đại Gia Dầu Khí”

Lời cổ vũ để áp đặt việc kiểm soát giá liên quan đến sự lo ngại về mức lợi nhuận cao ngoài sức tưởng tượng của các công ty dầu khí. Rất nhiều người Mỹ đã rất sốc về sự tăng giá chóng mặt của giá xăng vào giữa thập niên 2000 và cho rằng lợi nhuận của các công ty dầu khí thời bấy giờ là không công bằng (nhất là trong một nền kinh tế mờ ám).

Cho dù giá xăng dầu cũng đã giảm xuống đáng kể, các nhà phê bình và chính trị gia vẫn không ngừng gợi ý việc thực hiện một loại thuế đánh vào mức lợi nhuận cao bất thường đó. Họ biện hộ cho những đề xuất này bằng cách cho rằng chính phủ liên bang phải bảo vệ những người dân bình thường phụ thuộc vào xe hơi từ những tập đoàn dầu khí đa quốc gia ma quái.

Nhưng chúng ta phải hỏi rằng lý luận đó có đúng hay không. Nếu sự tăng giá đột xuất đó là vì các nhà tài phiệt dầu khí tham lam và người tiêu dùng bất lực, thì tại sao các nhà tài phiệt dầu khí đó lại không tham lam và người dân lại không phụ thuộc vào xe hơi khi giá dầu đang ở mức thấp?

Rất có thể là lòng tham của các công ty dầu khí và sự phụ thuộc vào xe hơi của người dân đã không thay đổi mấy từ năm 2004 đến 2005. Điều đã thay đổi là lượng cung và cầu. Khi càng nhiều quốc gia đã cải cách các cơ quan của mình thiên về phía thị trường tự do và trải qua thời kỳ kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu thụ dầu khí của họ tăng lên.

Sự rối loạn ở Trung Đông – và, chỉ ngắn gọn thôi, những cơn bão đã làm tổn thất Vùng Vịnh của Mỹ – đã dẫn đến việc nguồn cung bị gián đoạn và nỗi sợ là sẽ có thêm những cuộc gián đoạn tương tự trong tương lai. Các yếu tố này gồm lại và đã đẩy giá dầu lên cao vào thời điểm 2005-2006.

Giá dầu lúc đó chỉ là một sự phản ánh về tình hình thực tế của kinh tế. Đánh thuế vào những ”lợi nhuận bất thường” đó sẽ không sửa được những ống dẫn dầu đã bị phá hủy ở Iraq. Thậm chí, nó sẽ có kết quả ngược lại. Tại sao một công ty dầu khí phải tiêu hàng triệu đô để bảo vệ và sửa chửa hệ thống chuỗi cung ứng của họ nếu chính phủ sẽ đánh thuế vào những lợi nhuận họ phải mạo hiểm mới có được?

Các công ty dầu khí kinh doanh dài hạn. Khác với thợ làm tóc hay người bán bánh mì dạo, những người trong ngành dầu khí phải đầu tư – vào dụng cụ và máy móc khoan đất và khám phá, và vào vô số những thứ khác như chất xám và lương lao động – những thứ đó có thể phải mất hàng chục năm mới có thể thu hồi được vốn.

Họ biện hộ những thương vụ đầu tư đó bằng cách suy đoán về giá dầu tương lai. Khi giá dầu cao, họ sẽ kiếm được nhiều tiền (lợi nhuận), vì cơ sở hạ tầng của họ đã có sẵn. Nhưng những giai đoạn sinh lãi này phải bù đắp cho những năm đầu họ đã chịu lỗ khi họ phải bỏ tiền để thành lập dự án và hoạt động.

Nếu các nhà phê bình thật sự nghĩ rằng những nhà tài phiệt dầu khí bán dầu quá đắt, thì họ nên thành lập công ty riêng, mua mỏ dầu riêng, tự đào bới, xây dựng nhà máy lọc dầu riêng, và sau đó bán sản phẩm cuối cùng với giá thấp hơn mức “không công bằng” hiện tại.

nogas

Hết xăng…

Trong khi việc chính phủ kiểm soát và định mức giá cả có thể giúp bạn tiết kiệm một chút tiền khi đổ xăng. Nhưng nó sẽ làm bạn tốn thời gian và tiền bạc qua hình thức thiếu xăng, xếp hàng để chờ và thậm chí là hạn chế số lượng tiêu thụ. Vì sao? Vì lúc đó các công ty dầu khí sẽ không còn kiếm đủ lợi nhuận để duy trì hoạt động, để đưa xăng từ nhà máy đến trạm đổ xăng của bạn.

Điều này đang xảy ra ở Iraq, khi người lái xe phải xếp hàng cả tiếng đồng hồ để đổ xăng, bởi vì chính phủ Iraq (tiếp tục chính sách của Saddam Hussein) đã thi hành mức giá thấp không thể tả được cho xăng như một “phúc lợi” cho nhân dân của họ.

Có lẽ ví dụ tốt nhất để diễn tả sự liên kết giữa việc kiểm soát giá và sự thiếu thốn là giai đoạn khủng hoảng dầu khí OPEC (Organization of Petroleum Exporting Countries – Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa) vào thập niên 1970.

Các nước OPEC lúc đó đã giới hạn số lượng sản xuất để tăng giá dầu trên thị trường. Để đáp lại, chính quyền Mỹ của Tổng Thống Richard Nixon đã áp dụng chính sách kiểm soát giá xăng dầu. Kết quả là phải chứng kiến những cảnh người dân xếp hàng dài ở các trạm xăng trên toàn quốc để chờ đổ xăng.

Thay vì để cho giá thị trường cho phép người tiêu dùng quyết định sự lựa chọn của mình về việc họ sẵn sàng trả bao nhiêu để mua xăng, hoặc chấp nhận dùng phương tiện vận tải công cộng đến mức nào. Chính quyền Nixon đã áp đặt những luật tùy ý muốn để hạn chế lượng cung của xăng dầu. Thậm chí còn tuyên bố là chỉ những xe nào với những biển số quy định mới có thể mua xăng vào những ngày quy định.

Điều quan trọng để ấn mạnh là những dòng người xếp hàng ở các trạm đổ xăng không phải là kết quả của những quyết định của OPEC, mà là của chính quyền Nixon. Chính cái lúc những luật kiểm soát giá xăng được thả lỏng, người dân mới có thể mua xăng với số lượng như mình muốn trở lại.

Việc kiểm soát giá không chỉ có kết quả tiêu cực khi áp dụng đến xăng dầu – nó luôn có kết quả tiêu cực. Thậm chí, khi được áp dụng đến thị trường nhà ở, kết quả là người nghèo sẽ bị đẩy ra thị trường.

EPSON MFP image

[Chương 2 – Còn tiếp]

https://www.facebook.com/cafekubua/posts/699073183559532

Facebook Comments